|
I. Thiếu máu cơ tim là gì?
Thiếu máu cơ tim hay suy mạch vành là khái niệm dùng để chỉ bệnh lý hẹp động mạch vành làm cho máu không đến nuôi tim đầy đủ (khi lòng mạch vành bị tắc thì gọi là nhồi máu cơ tim). Tình trạng này thường do mãng mỡ lắng đọng vào thành mạch máu gây hẹp lònh mạch. Ngoài ra co thắt mạch vành cũng gây thiếu máu cơ tim khi có co thắt xãy ra.
II. Những người nào dễ bị bệnh thiếu máu cơ tim?
- Huyết áp cao hoặc tiểu đường.
- Gia đình có người bệnh mạch vành sớm hoặc đột tử.
III. Các triệu chứng nào gợi ý có thiếu máu cơ tim?
Đau thắt ngực trái chủ yếu khi gắng sức,
căng thẳng tâm lý, nhiễm lạnh…đau thắt ngực thường đau như bóp, vặn,
xoắn tim. Đau kéo dài 5 -10 phút, đau có khi như dao đâm, đau lan ra
hàm, cánh-cẳng tay trái và ngón út. Đau có khi lan ra hàm hoặc nghẹn ở
cổ. Khi nghỉ ngơi hoặc sử dụng nitroglycerine thì cơn đau sẽ giảm.
Ở một số bệnh nhân có thể không có đau ngực trái dù
thiếu máu cơ tim rõ rệt , điều này thường gặp ở người già, tiểu đường,
nhiều bệnh phối hợp như bệnh phổi mạn tính tắc nghẽn (COPD). Triệu
chứng khó thở, mệt khi gắng sức là dấu hiệu thường gặp ở nhóm người
này.
III. Các xét nghiệm nào thường sử dụng để chẩn đoán bệnh thiếu máu cơ tim?
1. Điện tâm đồ
Đây là xét nghiệm thường làm đầu tiên ở người nghi
ngờ thiếu máu cơ tim. Những thay đổi ở đoạn ST-T trên điện tâm đồ sẽ
gợi ý bệnh nhân có thiếu máu cơ tim. Chừng 50% bệnh nhân có thiếu máu
cơ tim nhưng điện tâm đồ không phát hiện được. Ích lợi của điện tâm đồ
là giúp phát hiện thiếu máu cơ tim nhanh chóng (nếu có điển hình), có
thể phát hiện thêm có nhịp tim có đều hay không. Chẩn đoán thiếu máu cơ
tim dựa vào điện tâm đồ thường không chắc chắn vì một số tình trạng
khác cũng gây hình ảnh giống như thiếu máu cơ tim ( phụ nữ trẻ, viêm cơ
tim, tim dày do cao huyết áp…)
2. X quang tim phổi thẳng
Đây không phải là xét nghiệm để chẩn đoán bệnh thiếu
máu cơ tim nhưng bác sĩ của bạn vẫn thường chỉ định là để xem đau ngực
của bạn có phải là do nguyên nhân khác như lao phổi, tràn dịch-tràn khí
màng phổi, thậm chí ung thư phổi…
3. Siêu âm tim thông thường
Xét nghiệm này gián tiếp cho thấy những vùng tim
thiếu máu qua hình ảnh bất động và giảm động của cơ tim. Ích lợi của
xét nghiệm này phát hiện bệnh lý tim khác kèm theo (hở van động mạch
chủ, hai lá…) và biết được tim bóp còn tốt hay không.
4. Điện tâm đồ gắng sức
- Là xét nghiệm kinh điển giúp khảo sát tình trạng
thiếu máu cơ tim, thường sử dụng khi bệnh nhân có thể gắng sức được.
Nguyên tắc của xét nghiệm này là tạo cho nhịp timgia tăng, tim làm việc
nhiều hơn. Nếu máu không đến tim đủ thì sẽ có thay đổi điện học giúp
gợi ý có bệnh thiếu máu cơ tim. Xét nghiệm cho biết bệnh nhân có thiếu
máu cơ tim nặng không để xem xét chụp động mạch vành can thiệp.
- Cách tiến hành xét nghiệm này như sau: bệnh nhân
trước khi làm điện tâm đồ gắng sức phải nhịn ăn hoặc chỉ ăn nhẹ trước
khi làm 6 giờ. Bệnh nhân có thể đi bộ trên thảm lăn (tương tự như thảm
lăn để tập thể dục) hoặc đạp xe đạp, đồng thời được theo dõi mạch,
huyết áp, điện tâm đồ liên tục. Bệnh nhân thường phải gắng hết sức
mình và tần số tim phải đạt tiêu chuẩn đề ra khi gắng sức mới cho kết
quả đúng.
+ Khi gắng sức tối đa mà cơn đau thắt ngực xuất
hiện và thay đổi điện tâm đồ thì chẩn đoán thiếu máu cơ tim khá chắc
chắn. Cần xem xét chụp động mạch vành và thông mạch vành.
+ Khi gắng sức tối đa, tần số tim đề ra đạt được,
không có triệu chứng và thay đổi điện tâm đồ thì chỉ diều trị thuốc mà
không cần làm xét nghiệm thêm.
5. Siêu âm tim gắng sức hoặc bằng thuốc
Đây là kỹ thuật siêu âm tim kết hợp với gắng
sức(hoặc thuốc) để gia tăng nhịp tim, sức bóp của tim nhằm bộc lộ tình
trạng thiếu máu cơ tim thông qua hình ảnh vùng cơ tim không bóp (bất
động), giảm bóp (giảm động), bóp không đồng bộ (loạn động)…Kỹ thuật này
thường được áp dụng để đánh giá bệnh nhân có khả năng thiếu máu cơ tim
hay không để từ đó xem xét chụp động mạch vành cản quang và giúp dự
đoán hậu quả bệnh nhân.
6. Xạ hình tim gắng sức hoặc bằng thuốc
Đây là kỹ thuật đòi hỏi cơ sở vật chất cao vì có sử
dụng đồng vị phóng xạ và tốn nhiều thời gian. Xét nghiệm giúp phát hiện
vùng thiếu máu nhưng ít áp dụng phổ biến vì những kỹ thuật khác vẫn
hiệu quả.
7. MSCT động mạch vành
Đây là kỹ thuật có nhiều tiến bộ trong những năm
qua, sử dụng kỹ thuật tia X đa cắt lớp hay còn gọi là CT scan. Để có
được hình động mạch vành rõ nét, bệnh nhân cần được bơm thuốc nhuộm
màu lòng mạch máu (chất cản quang), cần nín thở khi ghi hình, điều
chỉnh nhịp tim hợp ly. Xét nghiệm này thực hiện nhanh chóng, khá an
toàn. Cần đánh giá chức năng thận, tiền sử dị ứng chất cản quang trước
khi thực hiện xét nghiệm.
Bệnh nhân nên nhịn ăn trước khi chụp, không sử dụng
các thuốc như metformin (thuốc điều trị tiểu đường) trước đó 2 ngày. Độ
chính xác của xét nghiệm khá cao nhưng phụ thuộc vào thế hệ máy (4, 16,
64, 256 lát cắt), sự hợp tác của bệnh nhân.
Kết quả xét nghiệm có thể cho biết vị trí động mạch
vành bị hẹp, mãng xơ vữa bám trong lòng động mạch vành. Từ đó giúp bác
sĩ quyết định bệnh nhân nào cần chụp động mạch vành cản quang để can
thiệp tại vị trí hẹp.
MSCT 64 có thể cho thấy hình ảnh rõ nét động mạch vành v vị trí hẹp.
8. Cộng hưởng từ động mạch vành
Là xét nghiệm có nhiều triển vọng trong tương lai
với khá năng cho thấy hình ảnh hệ thống động mạch vành, tình trạng cung
cấp máu của động mạch vành với cơ tim, chức năng tim…
9. Chụp động mạch vành cản quang (hay DSA động mạch vành)
Đây là kỹ thuật chẩn đoán bệnh mạch vành chắc chắn
nhất hiện nay, giúp phát hiện tình trạng hẹp động mạch vành , vị trí và
quyết định nong và đặt giá đỡ động mạch vành cùng lúc.
Để làm xét nghiệm này, bệnh nhân phải nằm viện trung bình 2 ngày, bất động chân 24 giờ, hơi đau ở vùng chích động mạch.
Bệnh nhân được gây tê tại vùng bẹn, sau đó ống thông
rất mềm, kích thước rất nhỏ được luồn từ động mạch đùi vùng bẹn (hoặc
động mạch cánh tay, xem hình) lên đến gần động mạch vành (động mạch
cung cấp máu nuôi tim). Sau đó bơm thuốc nhuộm màu động mạch vành để
hình ảnh hệ thống động mạch vành hiện ra, từ đó sẽ biết vị trí nào ở
động mạch vành bị hẹp.

IV. Lựa chọn xét nghiệm nào để chẩn đoán thiếu máu cơ tim?
a. Xét nghiệm cơ bản (điện tâm đồ, chụp X quang tim phổi thẳng, có thể siêu âm tim)
Một bệnh nhân khi có đau ngực nghi ngờ bệnh thiếu
máu cơ tim thì sẽ được thực hiện xét nghiệm cơ bản như trên, nếu đau
ngực nhiều, không thuyên giảm có thể xét nghiệm về tổn thương cơ
tim(CK-MB, Troponin T, I) và theo dõi điện tim liên tục.
b. Xét nghiệm phân tầng nguy cơ (điện tim gắng sức, siêu âm tim gắng sức, MSCT động mạch vành)
Là những xét nghiệm nhằm đánh giá khả năng bệnh nhân
có thể bị bệnh mạch vành hay không khi mà các xét nghiệm cơ bản và lâm
sàng không kết luận được. Từ kết quả gợi ý của xét nghiệm phân tầng
bệnh nhân có thể mắc bệnh, bác sĩ sẽ xác định bệnh nhân có cần chụp
động mạch vành xác minh hay không?
c. Xét nghiệm xác minh (chụp động mạch vành cản quang)
Là xét nghiệm khẳng định chắc chắn bệnh nhân có bệnh
hay không và là kỹ thuật dùng để điều trị thông động mạch vành. Nếu như
xét nghiệm cơ bản gợi ý nhồi máu cơ tim (hoặc hội chứng vành cấp) kèm
đau ngực rõ rệt, có thể tiến hành ngay chụp động mạch vành để can thiệp
mà không phải sử dụng xét nghiệm phân tầng .
Ngoài ra, đối với bệnh nhân đau ngực trái, chụp động
mạch vành bình thường, nếu nghi ngờ co thắt mạch vành, người ta có thể
tạo co thắt mạch vành bằng thuốc khi chụp động mạch vành nhằm xác minh
chẩn đoán co thắt động mạch vành. Phương pháp này ít sử dụng rộng rãi
vì có nguy cơ và có thể điều trị đơn giản bằng thuốc.
V. Có bao nhiêu cách thức điều trị bệnh thiếu máu cơ tim?
1. Điều trị bằng thuốc và tiết thực
- Thuốc dãn động mạch vành: nitroglycerine, isosorbide dinitrate (hoặc mononitrate).
- Thuốc ức chế bê ta: atenolol, bisoprolol, metoprolol.
- Thuốc kháng tiểu cầu: aspirin (ASA, Aspegic), ticlopidine(Ticlide), clopidogrel (Plavix).
- Bệnh nhân có thể điều trị kết hợp với thuốc hạ áp khác nếu có cao
huyết áp, thuốc điều trị tiểu đường, giảm mỡ trong máu (atorvastatin,
lovastatin, bezafibrate, gemfibrozil, fenofibrate…).
- Giảm cân, tập thể dục vừa phải, hạn chế ăn mỡ (trứng, thịt heo mỡ).
2. Nong và đặt giá đỡ trong lòng mạch vành
Là phương pháp ít gây chảy máu thực hiện ngay sau
chụp động mạch vành. Thông qua ống thông (catheter) người ta luồn một
dây cực nhỏ (có chứa bong bóng nhỏ ở đầu dây) vào đến vị trí lòng động
mạch hẹp. Sau đó người ta bơm bóng để lòng mạch chổ hẹp rộng ra và
người ta đặt một giá đỡ (stent) để giữ cho lòng mạch thông suốt. Sau
khi đặt giá đỡ, người bệnh vẫn phải uống thuốc điều trị như trên suốt
đời.
Nong động mạch vành

Hình 1 cho thấy lòng mạch vành bị hẹp, hình 2 cho
thấy ống thông được đưa vaò lòng mạch hẹp, hình 3 cho thấy bong bóng ở
đầu ống thông được bơm lên làm mãng xơ vữa bị ép sát thành mạch, lòng
mạch trở nên rộng hơn (hình 4).
Đặt giá đỡ lòng động mạch vành
Giá đỡ là ống kim loại đặt biệt dạng lưới giúp cho lòng mạch giữ nguyên mức độ rộng lòng mạch sau khi nong.
Ngay sau khi nong lòng mạch vành người ta đặt giá đỡ
giữ lòng mạch ổn định lâu hơn. Bởi vì sau khi đặt có một số bệnh nhân
có hiện tượng tăng sinh tế bào nội mạc trong lòng mạch cho nên gây ra
hiện tượng tái hẹp, do đó người ta cải tiến thêm bằng cách tẩm thuốc
chống tăng sinh trong giá đỡ. Điều này giúp làm giảm tái hẹp trong lòng
mạch. Do đó khi đặt giá đỡ lòng mạch vành, bác sĩ của bạn sẽ xem xét
khả năng đặt giá đỡ có tẩm thuốc .
Sau khi đặt giá đỡ bác sĩ của bạn phải sử dụng một
số thuốc kháng tiểu cầu như clopidogrel nhằm làm giảm huyết khối trong
lòng giá đỡ. Cần phải theo dõi tại bác sĩ tim mạch định kỳ theo hẹn để
phát hiện các triệu chứng mới như huyết khối trong giá đỡ, tái hẹp
trong giá đỡ hoặc tổn thương một nhánh động mạch khác.
3. Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành
Thường áp dụng cho những trường hợp hẹp nhiều nhánh
không thể nong và đặt giá đỡ. Người ta nối ở đoạn trước và sau chổ hẹp
bằng một nhánh mạch máu khác để máu vẫn lưu thông mà không cần qua chổ
hẹp.
4. Tái thông bằng laser
Đây là cách thức điều trị hỗ trợ thường sử dụng để
làm giảm cơn đau thắt ngực khi mà bệnh nhân không thể tái thông mạch
máu bằng đặt giá đỡ và phẩu thuật bắt cầu động mạch vành. Để thực hiện
phẩu thuật này người ta sẽ sử dụng laser để tạo các kênh nhỏ xuyên qua
cơ tim từ đó máu có thể đến được vùng cơ tim thiếu máu.
BS. NGUYỄN HỮU TRÂM EM
Khoa Tim Mạch - Bệnh Viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
|